Thông tin tuyển dụng
Liên kết website
web hit counter

Khi một bên đương sự không hợp tác trong việc giải quyết thủ tục ly hôn
28/07/2014

Hỏi:

Tôi làm đơn xin ly hôn, toà án đã thụ lý hồ sơ và có giấy mời chồng tôi lên hoà giải nhưng chồng tôi không hợp tác. Sau đó toà án trả lại hồ sơ vì lý do hết thời hiệu. Hiện tại, cuộc sống của chúng tôi rất bế tắc, mâu thuẫn không có lối thoát, tôi cho rằng cách giải quyết của toà án không được tích cực. Tôi xin hỏi luật quy định như thế nào về giải quyết án ly hôn. Nếu một trong 2 bên không hợp tác, nhưng không phải là để hàn gắn mà thực chất chỉ làm khó nhau mà toà lại trả lại hồ sơ thì có đúng không?

Luật sư trả lời.      

+ Về vấn đề hòa giải, đây là thủ tục bắt buộc được quy định tại Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình (có hiệu lực ngày 01/01/2001). Điều 91 Luật hôn nhân và gia đình quy định: “Khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hoà giải tại Toà án không thành thì Toà án xem xét, giải quyết việc ly hôn.”

+ Việc không hợp tác của 1 bên đương sự trong vụ án hôn nhân gia đình phần lớn chỉ là việc tự tước bỏ quyền lợi của mình chứ không ảnh hưởng nhiều tới quyền lợi hợp pháp của bên kia.

Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung (có hiệu lực từ 01/01/2012) đã quy định tại điểm b khoản 2 Điều 199:

 “2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, nếu vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng thì xử lý như sau:

a….

b. Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ” .

Đối với trường hợp đương sự cố tình vắng mặt thì Tòa án phải thực hiện thủ tục niêm yết công khai để triệu tập bị đơn theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 154 Bộ luật Tố tụng dân sự, như sau:

“2. Việc niêm yết công khai văn bản tố tụng do Tòa án trực tiếp hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được cấp, tống đạt hoặc thông báo được thực hiện theo thủ tục sau đây:

a) Niêm yết bản chính tại trụ sở Tòa án, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được cấp, tống đạt hoặc thông báo;

b) Niêm yết bản sao tại nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được cấp, tống đạt hoặc thông báo;

c) Lập biên bản về việc thực hiện thủ tục niêm yết công khai, trong đó ghi rõ ngày, tháng, năm niêm yết.

3. Thời gian niêm yết công khai văn bản tố tụng là mười lăm ngày, kể từ ngày niêm yết”.

+ Đối với vấn đề Tòa án trả lại hồ sơ mà bạn hỏi thì chưa đủ dữ liệu cần thiết để trả lời cụ thể cho bạn được. Tôi cung cấp cho bạn những nội dung quan trọng liên quan đến vấn đề này để giúp bạn nhận thức đúng vấn đề.

 Điều 168 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định vấn đề “Trả lại đơn kiện, hậu quả của việc trả lại đơn kiện” như sau:

“1. Toà án trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau đây:

a) Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi TTDS

b) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Toà án bác đơn xin ly hôn, xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại hoặc vụ án đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Toà án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện;

c) Hết thời hạn được thông báo quy định tại khoản 2 Điều 171 của Bộ luật này mà người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Toà án, trừ trường hợp có trở ngại khách quan hoặc bất khả kháng;

d) Chưa có đủ điều kiện khởi kiện;

đ) Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.

2. Khi trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Toà án phải có văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho VKS cùng cấp.”


Luật sư Lý
CHUYÊN MỤC LIÊN QUAN